Read more
Thích Nhất Hạnh Podcourse by Vô Ngã
Sách Thiền Sư Thích Nhất Hạnh
Đọc và download hàng trăm quyển sách của Thầy tại đây.
Con Đã Có Đường Đi
Con Đường Của Phật
Những đóng góp của đạo Phật cho một nền đạo đức toàn cầu
Chương 19. Một Số Khuynh Hướng Đạo Đức Khác
Thuyết Báo ứng
Khuynh hướng của các
nhà đạo đức học theo trường phái Công Ích Luận là không nên trừng phạt, chỉ
giúp cho họ cải tạo, để họ đừng làm như vậy nữa thôi. Trong khi đó thì có những
nhà đạo đức học theo trường phái Thuyết Báo Ứng lại nói rằng phải để cho những
người đó chịu khổ thì họ mới thấy được những việc làm mà họ đã gây ra, “Anh giết
người thì anh phải đền mạng, anh đánh người ta, anh phải bị đánh lại.”
Họ đưa ra những lý do
rất cụ thể. Thứ nhất, nếu một người gây ra tội ác mà không bị trừng phạt thì những
nạn nhân và gia đình họ mang những nỗi khổ đau kéo dài, vì vậy phải trừng phạt
để nỗi oan ức kia tan biến. Thứ hai là nếu không bị trừng phạt thì những người
này sẽ tiếp tục gây ra những tàn hại trong tương lai. Thứ ba là phải trừng phạt
để răn đe, cảnh cáo những người khác. Đó là những lý do khiến cho người ta bênh
vực chủ thuyết báo ứng này. Chúng ta cũng có khuynh hướng như vậy. Chúng ta có
khuynh hướng muốn đối xử với những người tốt khác hơn với những người xấu.
Trong kinh Tứ Thập Nhị
Chương có câu: “Cúng dường cho một người tốt thì công đức lớn gấp 10 cúng dường
cho một người ác. Cúng dường cho một bậc giác ngộ thì công đức lớn gấp 1000 lần
cúng dường cho một người chưa giác ngộ.” Chúng ta cần phải quán chiếu và đặt
câu hỏi là tại sao lại có câu đó?
Mới đọc câu này lên
ta thấy dường như ở đây không có tinh thần xả
mà giống một sự đầu tư. Đây là vấn đề bố thí, bố thí là bố thí thôi, người ta
đói khổ thì mình cứu giúp, đừng có tính toán rằng giúp cho người này thì có lợi
nhiều hay có lợi ít, không nên so đo như vậy. Nhưng theo tinh thần của kinh Tứ
Thập Nhị Chương, thì bố thí cũng là một loại đầu tư. Đầu tư ở đây không phải
cho mình mà là đầu tư cho thế gian. Nếu mình cứu một người tốt thì người tốt đó
sẽ giúp được nhiều người hiền khác. Còn khi mình cứu một người ác thì dù người
ác cũng đau khổ như người tốt kia, nhưng người ác đó sẽ không tiếp tục công việc
như mình là đi cứu người mà vẫn lại có thể tiếp tục đi làm các việc ác. Cho nên
bố thí là một loại đầu tư, mà đầu tư thì phải thông minh. Mỗi bên đều có cái lý
của mình.
Thành ra đạo đức học
không phải là vấn đề đơn giản. Ta hãy thử quan sát tâm mình qua cách hành xử.
Giả dụ ta có hai người hàng xóm, một người rất tốt bụng luôn sẵn lòng giúp đỡ
ta và một người rất khó ưa, sống ích kỷ, hẹp hòi. Khi cả hai người tới mượn ta
một món đồ gì đó thì ta rất dễ dàng cho người hành xóm tốt bụng mượn vì ta nghĩ
rằng người ấy xứng đáng, còn người hàng xóm thứ hai thì ta chần chừ, hoặc dứt
khoát không cho mượn, vì nghĩ rằng đây là cơ hội cho ông ta một bài học. Như vậy
là ít nhiều trong tâm ta cũng đi theo chủ nghĩa Báo Ứng (Retributism). Cho nên
khi nói tới giới luật thì mình biết rằng giới luật không phải là chuyện đơn giản.
Tất cả những vấn đề này đều nằm trong nền tảng của giới luật. Vì vậy chúng ta đừng
nên có thái độ cố chấp, sẵn sàng nghe để hiểu, để thay đổi là điều rất quan trọng.
Thuyết Vị Kỷ
Đây không phải là một
thuyết xấu mà kỳ thực cũng có tuệ giác của nó. Những người theo thuyết này cho
rằng phải lo cho bản thân mình trước, đó là điều căn bản. Họ cho rằng: mình chỉ
có một đời thôi, nên phải làm sao cho đời sống của mình có hạnh phúc, tại sao lại
đi làm chuyện xã hội làm chi. Lo cho hạnh phúc, an ninh của mình trước hết; đó
là chủ trương của Thuyết Vị Kỷ. Nếu nhìn cho sâu thì mình sẽ hiểu chữ kỷ này theo tinh thần vô ngã. Ví dụ như mình ăn gian bán lận
là để thu lợi cho riêng mình, nhưng khi mình làm những việc như vậy thì không
ai còn tin tưởng, không ai còn muốn quan hệ mua bán với mình nữa, mọi người sẽ
ghét bỏ và xa lánh mình. Như thế là mình thất bại. Vì vậy, người vị kỷ là phải
chân thật, làm ăn đứng đắn thì mới có lợi cho bản thân. Cái gì mà mình làm cho
mình thật sự hạnh phúc thì cái đó cũng làm lợi cho người khác.
Chẳng hạn ta thở vào
một hơi, ta chỉ lo thở vào cho mình thôi, ta không lo thở vào cho người kia.
“Thở vào, tôi biết là tôi thở vào. Thở vào, tôi buông thư những căng thẳng
trong thân thể của tôi.” Ta làm điều đó là hoàn toàn cho mình thôi. Nhưng nếu
ta thành công là ta buông thư được, ta không còn cáu gắt hay khó chịu nữa mà lại
có an lạc, hạnh phúc thì lúc ấy người khác cũng được hưởng sự tươi mát từ ta.
Như vậy thì tất nhiên là hơn, khi ta căng thẳng, nóng nảy và vung vãi ra năng
lượng tiêu cực khiến những người xung quanh ta lãnh đủ. Vì vậy cho nên điều ích
lợi cho ta không hẳn là chuyện xấu nếu đích thực đó là sự ích lợi. Ta đi thiền
hành giống như là đi cho mình vậy. Ích kỷ, chỉ đi thiền hành cho mình thôi.
Nhưng trong khi đi thiền hành có an lạc, hạnh phúc thì những người khác cũng được
nhờ, thế gian cũng được nhờ.
Do đó, quan điểm cho rằng những người tu theo pháp tiểu thừa, chỉ
biết lo giải thoát, giác ngộ của bản thân là chưa thấy được sự thật. Khi một
người lo tu tập cho sự giải thoát, giác ngộ của mình thì họ cũng đang giúp
chúng ta rất là nhiều. Nếu tu theo tiểu thừa cho thật đúng thì đó là đại thừa rồi.
Nếu mà tu theo đại thừa cho thật đúng, biết lo cho bản thân mình rất đàng hoàng
thì cũng là tiểu thừa. Vì vậy ranh giới giữa đại thừa và tiểu thừa cần phải phá
bỏ.
Cho nên Chủ Nghĩa Vị
Kỷ (Ethical egoism) tưởng như là xấu nhưng đi sâu vào ta thấy có tuệ giác ở
trong đó. Những cái gì thật sự đem lại an lạc, hạnh phúc cho mình sẽ không bao
giờ có hại cho người khác hết, nếu đó đúng là hạnh phúc. Vậy nên phải định
nghĩa rõ ràng thế nào là hạnh phúc. Đứng về phương diện công ích người ta có thể
nói hạnh phúc trước tiên là phải có cơm áo, tự do và công bình xã hội. Nhưng
trên thực tế có biết bao nhiêu người đầy đủ cơm áo mà vẫn khổ, vẫn tự tử. Với
những người đó họ thấy rằng tình thương yêu, sự hiểu biết quan trọng hơn là cơm
áo. Lòng bao dung cũng rất quan trọng, nếu thiếu bao dung thì sẽ có chiến
tranh, có bom rơi đạn nổ. Sống bên nhau mà biết cảm thông, thương yêu thì vấn đề
cơm áo sẽ ít gây ra bức xúc nữa.
Đứng về phương diện
công ích, mỗi người đều có một sự lựa chọn, do nhu yếu của mỗi người mà có những
cái được ưu tiên hơn, và mình biết rằng cái này có liên quan tới những cái
khác. Trong đạo Bụt, chúng ta thấy rất rõ cái mình cần nhất, không hẳn là cơm
áo, chỗ ở hay là quyền tự do ngôn luận. Cái mình cần nhất là sự bình an trong
tâm hồn, là khả năng hiểu biết và thương yêu. Có những cái đó rồi thì vấn đề
cơm áo trở nên dễ dàng. Cho nên câu nói trong dân gian “Có thực mới vực được đạo”
chưa chắc đã đúng. Khi đi tu, trở thành một hành giả, thì vấn đề của mình không
phải là đi tìm cơm áo, đi tìm tự do ngôn luận, hay bình đẳng xã hội, mà mình đi
tìm cái hiểu và cái thương, mình phải chế tác được cái hiểu và cái thương ở
trong trái tim của mình. Mình biết rằng khi đóng góp được nhiều hiểu và thương
thì các vấn đề khác sẽ trở thành dễ dàng hơn. Thành ra đối với mình, cái ưu
tiên phải là cái hiểu, cái thương, cái bao dung tha thứ.
Thuyết Vị Kỷ cũng vậy.
Mình muốn cho mình hạnh phúc, nhưng hạnh phúc đích thực là gì? Có phải chỉ là
cơm no áo ấm không, hay mình cũng cần tình thương nhất? Vì vậy mình phải biết
chế tác ra tình thương và ban phát tình thương, làm được như vậy thì hạnh phúc
mới chân thật. Bởi vì nếu mình giận hờn thì chính mình là người đau khổ đầu
tiên, dù mình có nhiều tiền bạc hay địa vị thì mình vẫn khổ như thường. Nhưng
khi đã trút bỏ được lòng sân hận thì dù bụng đang đói mình cũng không thấy khổ
vì lúc ấy trái tim mình rất rộng mở.
Người tu cũng là một
người vị kỷ, người đi tìm hạnh phúc cho mình. Người tu dành ra rất nhiều thời
gian để làm cho tâm của mình ngày càng cởi mở, nhẹ nhàng; để khả năng bao dung,
thương yêu ngày càng lớn rộng. Lúc ấy mình có thể mỉm cười được, mình thấy khỏe
nhẹ trong người và nhờ vậy mà thế gian cũng được thừa hưởng. Cho nên thuyết vị
kỷ không hẳn là xấu.
Thuyết Vị Tha
Trái với vị kỷ là
Thuyết Vị Tha (Ethical altruism), với chủ trương là đừng nên lo cho mình, chỉ
lo cho người khác thôi. Mình là con số không, không quan trọng, để lo cho người
khác. Có những người như vậy, suốt đời chỉ làm việc cho những người khác. Khi bảo
họ lo cho bản thân thì có thể là họ không thấy vui, nhưng khi bảo họ lo cho những
người khác, thì trái tim từ bi trong họ ngập tràn hạnh phúc. Vì vậy, ranh giới
giữa mình và người không còn nữa. Và rõ ràng rằng, tuy là hai thuyết này chống
trái nhau như là mặt trời với mặt trăng song nó cũng rất giống nhau. Khi đem
ánh sáng đạo Bụt để soi chiếu vào thì thấy rằng cả hai danh từ này cũng đang
còn bị kẹt trong ý niệm ngã, vẫn còn có mình (kỷ), vẫn còn có người (tha).
Trong đạo Bụt ta thấy rằng khi nhìn vào mình thì thấy người, nhìn vào người thì
thấy mình, nhìn vào con thấy cha, và nhìn vào cha thấy con. Đó là vô ngã. Trong
ánh sáng của vô ngã thì chủ thuyết vị kỷ, chủ thuyết vị tha cũng đều giống
nhau. Nó chỉ là vấn đề danh từ mà thôi.
Cũng như chủ thuyết
Công Ích Luận, hai chủ thuyết vị kỷ và vị tha này cũng đồng ý là tất cả những
hành động nào của mình đưa tới hạnh phúc cho mình, giảm thiểu những khổ đau của
mình, hoặc đưa tới những hạnh phúc cho người, giảm thiểu những khổ đau của người
thì hành động đó đều là hành động chân chánh, là thiện. Đó là những chủ trương
thuộc về khuynh hướng Hậu Quả Luận. Người ta nói rằng Hậu Quả Luận có những điểm
yếu kém ở chỗ nó không cho người ta biết hành động nào của bản thân là thiện,
hành động nào của bản thân là ác. Như vậy sẽ không định nghĩa được thiện và ác.
Bởi chỉ nhắm tới hậu quả thôi, mà hành động đưa tới hậu quả đó lại không thể
nào quyết định được, đó là điểm yếu của Hậu quả luận.
Khuynh Hướng Đạo Nghĩa Luận
Cho nên mới có khuynh
hướng ngược lại gọi là Đạo nghĩa luận (Deontology). Tức là có những nguyên tắc
đạo đức chính nó là thiện, là tốt, hậu quả không cần biết tới. Thí dụ như việc
không giết người, chính nó là hành động tốt, là thiện, không cần biết cái kết
quả như thế nào. Có những điều mình không được làm, dầu làm có được cái gì đi nữa
thì cũng không được làm. Cũng giống như là triết học Đức, Emanuel Kant, theo
ông là không được nói dối, chỉ được phép nói sự thật. Đó là một hành động đạo đức,
còn kết quả của nó thì không cần xét tới, dù nói dối để cứu người cũng không được.
Theo khuynh hướng này
thì những điều gì gọi là đạo nghĩa thì mình phải làm, kết quả của nó như thế
nào mặc nó. Ví dụ như trong chuyện giết người, thì không được giết người, đó là
đạo nghĩa. Nên chuyện giết người là không thể được, dù giết người có thể làm
cho người đó bớt khổ. Có một nhà khoa học tên là E.W. Caldwell, ông ta nghiên cứu
về tia X quang trong 30 năm. Vì hồi đó không có kinh nghiệm nên tia X quang đã
làm hại cơ thể của ông. Rút cuộc ông lâm bệnh rất nặng. Các bác sĩ nói ông có
thể sống được thêm ba tháng nữa, nhưng cơ thể đau đớn làm ông khổ sở quá. Ông
yêu cầu ba người anh em của mình tới làm sao giúp ông chết càng mau càng tốt.
Hai người anh lớn nhất định không làm chuyện đó, họ không muốn giết em mình dù
em mình năn nỉ, cầu xin. Nhưng người em thứ ba thì thấy thương anh quá. Bữa đó
người em thứ ba đi vào nhà thương cầm súng bắn một loạt năm sáu phát đạn và nhà
khoa học kia chết. Đó là thương mà giết, hành động ấy xuất phát từ lòng từ bi.
Cố nhiên là theo luật pháp thì giết người là phải đi tù, và người em đó phải ra
toà, xong toà cũng thương tình nên phạt nhẹ thôi.
Hiện bây giờ bên Mỹ
có một vụ về một phụ nữ 38 tuổi, đã nằm hôn mê 18 năm rồi, và người ta phải đưa
thức ăn nuôi cô bằng ống dẫn đi thẳng vào máu. Gia đình cô rất muốn cô chết để
cho cô bớt khổ và để cho gia đình cũng bớt khổ nhưng luật pháp không cho phép
điều đó, dù là chết không đau đớn. Hiện nay trên thế giới chỉ có ba nước cho
phép mình có quyền lựa chọn cái chết, là nước Hoà Lan, Bỉ, và Colombia. Còn
ngoài ra mình chỉ có quyền sống thôi. Đó là ảnh hưởng của nhà thờ. Nếu bác sĩ
giúp cho mình chết thì bác sĩ sẽ bị ở tù.
Bên Ý hiện giờ cũng
có một cô 38 tuổi, cũng đã 18 năm đã sống trong tình trạng đau đớn khôn cùng vì
bệnh tật. Cô rất muốn chết, ba của cô cũng muốn cho con gái mình chết đi để khỏi
phải chịu đựng những cơn đau đớn như vậy, nhưng luật pháp nước này cũng không
cho. Sau nhiều cuộc vận động thì Toà Thượng thẩm cho phép. Cha cô mừng quá, về
rút ống dẫn ra thì mấy ngày sau người con gái được chết.
Nhưng chính quyền các
nước với sự hợp tác của tòa Thánh đang tìm cách để đưa ra những đạo luật cấm cản
việc này. Vì vậy nên có những căng thẳng giữa toà án, giữa ngành tư pháp với
ngành hành pháp và nhà thờ. Đây là vấn đề lớn của đạo đức học. Bởi những nhà Đạo
Nghĩa Học quá cứng ngắc, không cần nghĩ tới hậu quả. Khổ thì khổ nhưng cũng
không được làm gì hết, dầu cho nhân danh tình thương cũng không được làm. Khi một
người mẹ đang mang thai, biết rằng cái thai của mình mang bệnh, nếu sinh ra thì
nó sẽ khổ, hoặc sinh ra vài ngày thì nó sẽ chết nhưng lại không có quyền phá
thai, bởi vì luật là như vậy, giáo lý của nhà thờ là như vậy, rất là cứng ngắc.
Đó là thuộc về khuynh hướng Đạo Nghĩa Luận.
Đạo Bụt không cứng ngắc
như vậy. Trong đạo Bụt có phương tiện Khai và Giá. Khai là mở ra, Giá là ngăn lại.
Tổng thống Truman bỏ một trái bom nguyên tử xuống thành phố Hirosima. Trong
vòng mấy phút thì 140000 người chết, ngoài ra còn hàng trăm ngàn người bị nhiễm
phóng xạ nguyên tử, rồi bị bệnh mà chết từ từ. Mấy ngày sau đó lại bỏ thêm một
trái bom thứ hai nữa ở Nagasaki làm 70.000 người chết nữa. Hiện bây giờ người
ta vẫn còn đàm luận rằng hành động bỏ bom như vậy trên Nhật Bản là đúng hay
sai, là thiện hay ác. Theo những nhà chính trị thì bỏ bom như vậy là tốt. Vì nhờ
bỏ 2 trái bom nguyên tử mà đệ nhị thế chiến được chấm dứt. Nếu mấy trăm ngàn
người đó không chết thì có thể là cuộc chiến tranh kéo dài hơn và có thể là còn
nhiều người chết hơn nữa. Đó là lý luận của họ.
Khuynh Hướng Hậu Quả Luận
Hậu Quả Luận là một
danh từ do nhà nữ triết học nổi tiếng người Anh là Elisabeth Anscombe đặt ra.
Bà chính là người cùng với các sinh viên quỳ xuống cầu nguyện phản đối chuyện tổng
thống Truman qua nước Anh và được trường Đại học Oxford trao danh hiệu tiến sĩ
danh dự vì đã bỏ hai quả bom xuống đất nước Nhật Bản để chấm dứt chiến tranh.
Hậu Quả Luận nói rằng:
Mình làm gì cũng được miễn sao hành động đó đem lại hạnh phúc thì là hành động
tốt. Tức là nhìn vào kết quả và mình có thể thấy được nguyên nhân. Nếu kết quả
tốt tức là nguyên nhân cũng tốt, nghĩa là cứu cánh biện minh cho phương tiện.
Ví dụ như nói, có hoà bình là hậu quả tốt, nên khi bỏ hai trái bom làm 210.000
người chết ngay tại chỗ và nhiều ngàn người mắc bệnh chết dần trong nhiều năm
cũng là chuyện đúng (?). Đây là khuynh hướng mang màu sắc của Hậu Quả Luận.
Chúng ta thấy có cái gì bất an, trăn trở khi lý luận như vậy. Chẳng hạn có một
người đam mê cờ bạc, muốn mượn tiền của người ta để tiếp tục nướng vào sòng bạc,
nhưng nếu nói thật ra thì ai người ta cho mượn, cho nên muốn đạt được kết quả tốt
là mượn được tiền thì phải nói dối: “Xin chị thương em, cho em mượn một ít tiền,
vợ em bị bệnh, các con em đang thiếu ăn, em sẽ ráng trả lại sớm cho chị. Chị cứ
yên tâm.” Cho nên thuyết Hậu Quả Luận này cũng nguy lắm.
Khuynh Hướng Đức Hạnh Luận
Có một khuynh hướng nữa
gọi là Đức Hạnh Luận (Virtue ethics), cho rằng những đức tánh như là từ, bi, hỷ,
xả chính nó là đạo đức rồi, không cần phải biết kết quả như thế nào, hễ từ là tốt, bi là tốt, hỷ là tốt, xả là tốt, nhân ái là tốt. Có những đức tánh tốt đẹp, làm người thì mình nên
nuôi những đức tánh đó, dù là kết quả gì, hậu quả gì không cần biết. Khuynh hướng
này có rất nhiều sự thật trong đó. Ví dụ như mình nuôi dưỡng lòng từ bi thì kết
quả bên ngoài như thế nào mình chưa biết nhưng trước hết có lòng từ bi rồi thì
mình khổ rất ít. Ngược lại, khi có sự giận hờn, căm thù trong lòng thì mình khổ
đau rất nhiều. Cho nên mình có thể thấy được hậu quả của lòng từ bi ngay khi
lòng từ bi được phát khởi. Khi trái tim mình ứa ra được một giọt nước từ bi thì
giống như là nước cam lộ, mình thấy lòng nhẹ xuống, bớt khổ.
Trên hình thức, giống
như có sự chống đối giữa hai khuynh hướng Đức Hạnh Luận với Hậu Quả Luận, nhưng
trong nội dung thì không thấy điều đó. Trong Khổng Giáo có ý niệm gọi là nhân.
Đạo Khổng không nói đến từ bi nhưng lại nói đến nhân. Trong sách Luận ngữ, Đức Khổng Tử có trả lời các môn đệ của
Ngài về vấn đề nhân. Có một lần Ngài
định nghĩa nhân là: “Kỷ dục lập như lập
nhân. Kỷ dục đạt như đạt nhân,” nghĩa là khi mình đứng dậy, tự lập được rồi,
thì mình giúp cho người khác cũng đứng dậy và tự lập được. Mình muốn thành đạt
và mình cũng muốn người khác thành đạt như mình. Theo đức Khổng Tử, chữ nhân gồm có năm yếu tố :
– Thứ nhất là từ bi
và khoan dung. Từ là hiến tặng hạnh phúc cho người, bi là làm vơi nỗi khổ của
người, khoan là rộng rãi, bao dung.
– Thứ hai là sự cung
kính. Phải biết cung kính mình, phải biết tự trọng, tiếp đến phải biết kính trọng
người khác. Nếu không có lòng kính trọng thì không có nhân. Cung kính là một
trong những yếu tố của nhân.
– Thứ ba là tín. Tín
tức là phải thành thật, không nói dối.
– Thứ tư là mẫn. Mẫn
tức cần mẫn, tinh tấn.
– Thứ năm là huệ. Huệ
là thi ân bố đức, tức là phân phát ân đức cho những người khác, giúp đỡ gia ơn
cho người ta.
Ngoài ra, có một
nguyên tắc đạo đức của Khổng Tử mà trên thế giới bây giờ ai cũng biết đến là “Kỷ
sở bất dục vật thi ư nhân” (Cái mà mình không muốn thì đừng làm cho người
khác). Ví dụ mình không muốn đau đớn thì đừng có làm cho người khác đau đớn.
Mình không muốn tủi hổ thì đừng làm cho người khác tủi hổ. Mình không muốn bị
đói thì đừng làm cho người khác đói. Đó là nguyên tắc đạo đức của Khổng giáo mà
Tây phương bây giờ gọi là “The gold rules”, nguyên tắc vàng.
Nhưng trong ánh sáng
của đạo Bụt, ta phải hiểu rõ về chữ dục (muốn) này. Ví dụ như có một em bé bị bệnh
phải uống thuốc, em bé không muốn uống thuốc, nhưng bà mẹ vẫn ép em bé uống vì
biết rằng uống thuốc sẽ tốt cho em bé. Có nhiều người họ biết rằng giữ giới
không uống rượu, không sử dụng ma túy, không tà dâm là tốt nhưng họ vẫn không
muốn giữ giới. Thành ra vấn đề dục này là một cái cần phải xét lại. Mình đã hiểu
câu này đến đâu rồi? Bất cứ một công thức nào, một lợi ích nào cũng chỉ có một
giá trị tương đối nào đó thôi. Có Khai thì có Giá.
Thuyết Mệnh Lệnh Của Thượng Đế
Tuy là người sáng tạo
ra danh từ Hậu Quả Luận, nhưng Elisabeth Anscombe lại chống cái khuynh hướng Hậu
Quả Luận mà theo chủ thuyết Mệnh Lệnh Của Thượng Đế, nghĩa là những cái gì tốt,
những cái gì lành là do Thượng Đế phán ra thì mình chỉ cần theo thôi, rất là
khoẻ. Hậu Quả Luận là phải lý luận. Còn cái thuyết gọi là Mệnh Lệnh Của Thượng Đế
(God’s command theory) thì rất dễ theo. Chúa nói như thế nào mình cứ làm theo
như thế đó, khỏi phải tự quyết định làm chi cho mệt. Chúa nói tốt nghĩa là tốt,
Chúa nói hay, nghĩa là nó hay, mình chỉ đi theo thôi. Đó là quan điểm của thuyết
Mệnh Lệnh Của Thượng Đế.
Trong đạo Bụt cũng có
một phần tương tự. Khi nghiên cứu về Tứ Diệu Đế, chúng ta thấy có sự thật thứ
nhất là khổ, và sự thật thứ hai là tập, tức là những nguyên nhân đưa tới cái khổ.
Tập đế đưa tới khổ đế. Đây cũng là một loại Hậu quả luận. Nếu không muốn kết quả
như thế này thì đừng làm như thế kia, không muốn gặt bão thì đừng gieo gió.
Diệu đế thứ ba là diệt,
tức là khổ được chấm dứt, nó cũng có nghĩa là lạc, vì khổ đau bị tiêu diệt tức
là an lạc có mặt. Và muốn diệt khổ đắc lạc
phải có con đường tức là đạo. Vì vậy cho nên nếu muốn có lạc và diệt khổ thì phải
đi theo đạo. Đây chính là cái nhân đưa tới cái quả, rất giống với Hậu quả luận.
Bất cứ một cái gì có thể diệt được khổ, có thể đem lại an lạc là tốt. Bất cứ một
cái gì mà mình không làm để tránh những hậu quả xấu thì là đúng. Mới nhìn qua,
ta thấy rằng Tứ diệu đế là một hình thái của Hậu quả luận, phải không? Gieo đậu
thì được đậu, gieo cà thì được cà, cái đó là lý nhân quả thôi có gì đâu? Nó là
một loại Hậu quả luận. Nhưng chúng ta đã đi sâu hơn để hiểu được Tứ diệu đế.
Chúng ta đã nhìn Tứ diệu đế bằng con mắt tương tức. Thấy cái khổ và cái lạc
liên hệ mật thiết với nhau. Không có khổ thì không có lạc. Vì vậy cho nên cái
khổ đóng vai trò nào đó để chế tác ra cái lạc. Cũng như là sau những ngày mất
điện, mất nước chúng ta đã reo mừng sung sướng khi có điện, có nước trở lại.
Nên khi quán chiếu thì thấy rằng cái lạc được làm bằng những yếu tố không phải
lạc, sen được làm bằng những yếu tố không phải là sen.
Trong đạo Bụt, đau khổ đóng một vai trò nhất định cho sự giải thoát. Và cái nhìn của đạo Bụt về đau khổ khác với cái nhìn về đau khổ của những truyền thống khác. Mình không nhìn đau khổ bằng con mắt hằn học, mình nhìn bằng con mắt tương tức. Đau khổ đôi khi rất cần thiết. Vì vậy cho nên mình nói là những cái lợi lạc của khổ đau.
Thiền Sư Thích Nhất Hạnh
Sự thật là mỗi chúng
ta đều cần phải trải qua một chút ít khổ đau, một liều lượng khổ đau nhất định
thì mới nên người được (tất nhiên là đừng có khổ đau quá). Vì vậy cho nên thái
độ trốn tránh hoàn toàn khổ đau là không đúng. Phải tìm hạnh phúc từ trong khổ
đau, tìm Niết bàn trong sinh tử, tìm Bụt trong chúng sinh. Bỏ chúng sinh để đi
tìm Bụt thì chẳng bao giờ tìm được đâu. Vì vậy phải hiểu Tứ diệu đế trong ánh
sáng tương tức, phải thấy là cái khổ đóng một vai trò quan trọng để tạo ra cái
lạc. Vì thế mình không nhìn Tứ đế bằng con mắt phân biệt, kỳ thị mà nhìn bằng
con mắt dung hợp, bất nhị, tương tức. Đây là một điều rất hay và cũng là điều
khác biệt giữa đạo Bụt với các truyền thống
khác.
Thuyết Luật Tự Nhiên
Trong Giáo hội Công
giáo, thuyết Mệnh lệnh của Thượng đế được coi là quan trọng, nhưng kỳ thực nó
không quan trọng bằng thuyết Luật Lệ Của Tự Nhiên (Natural law). Tại vì thuyết
Natural law là thuyết của người Hy Lạp tạo dựng ra cách đây những hơn 2000 năm.
Ngày xưa Aristotle là
người khởi xướng ra lý thuyết này. Ông nói, bất kỳ cái gì ở trong vũ trụ cũng đều
có một công dụng hết. Ví dụ trời sinh ra cái răng để nhai thức ăn, sinh ra cái
lưỡi để nếm, sinh ra con mắt để nhìn. Họ nói rằng trong thế giới có những trật
tự, có những giá trị, những mục đích. Ví dụ như mưa là để làm cho cây cối mọc
lên. Mà cây cối mọc lên được để làm gì? Mục đích của cây cối là để cho trâu bò
và các loài ăn. Cứ lý luận như vậy thì sẽ đi tới chỗ các loài trâu bò, thú vật
ăn để làm gì? Để trở thành thực phẩm của con người. Vậy đó! Khi mới khai thiên
lập địa thì làm gì có con người, nhưng đã có mưa, có cây cỏ và loài vật rồi,
con người xuất hiện rất là muộn. Nhưng họ lý luận như vậy. Và người ta tiếp tục
lý luận rằng, cái răng dùng để nhai thức ăn chứ không dùng vào việc khác. Tình
dục là để tạo ra các em bé, vì vậy tình dục mà không với mục đích tạo ra các em
bé là tình dục sai. Vì vậy Giáo hội Công giáo không chấp nhận tình dục của những
người đồng tính. Và khi được hỏi: thế con mắt dùng để làm gì thì các nhà triết
học theo thuyết này trả lời, con mắt dùng để nhìn. Nhưng đâu phải con mắt chỉ
dùng để nhìn. Con mắt có thể dùng để biểu lộ tình thương, hoặc sự không hài
lòng. Vì vậy con mắt không phải chỉ để nhìn mà còn được sử dụng như một phương
tiện truyền thông.
Có những nhà triết học
chống lại chủ thuyết của Giáo hội vì chủ thuyết của Giáo hội quá cứng ngắc. Cho
nên mình phải trở thành một quan sát viên thực tế, phải quán chiếu, học hỏi thì
mới biết hành động nào là đúng, hành động nào là sai. Nếu có được cái nhìn
tương tức, cái thấy bất nhị thì mình sẽ mềm dẻo hơn nhiều.
Trong chủ trương của
Giáo hội, ban đầu, theo Mệnh Lệnh Của Thượng Đế là không có quyền sát hại bất cứ
một sinh mạng nào, không được nhân danh bất cứ một cái gì để có thể giết hại.
Vì vậy cho nên chuyện phá thai, kiểm soát sinh nở là chuyện rất cấm kỵ. Giáo hội
cũng kịch liệt chống đối việc giúp người khác chết một cách nhẹ nhàng không đau
đớn. Có những người nằm liệt trên giường, ngày đêm thân tâm đau đớn, những người
ấy rất muốn được tiêm một liều thuốc để có thể ra đi một cách nhẹ nhàng nhưng
Giáo hội không cho. Thế nhưng Giáo hội Công Giáo lại mở cửa cho phép án tử
hình, và đồng ý cho người ta đi đánh giặc một cách rất là cứng rắn. Đó là những
vấn đề rất lớn của đạo đức học.
Đạo Đức Học Thuyết Minh
Siêu đạo đức học là một
môn triết học rất quan trọng hiện giờ, tại vì nó có thể làm nền tảng cho các
ngành đạo đức học khác. Chúng ta có một ngành đạo đức học gọi là Đạo Đức Học
Thuyết Minh hay Đạo Đức Học Miêu Tả (Descriptive ethics). Phận sự của ngành triết
học này là miêu tả thôi, nghĩa là chỉ nhận xét, nghiên cứu và nói ra quan điểm
về thiện ác, miêu tả về những nền đạo đức có mặt trong xã hội này, xã hội kia để
cho chúng ta thấy được sự thật thôi chứ không khuyên răn người ta nên làm cái
này hay không nên làm cái kia.
Ví dụ như nói về chế
độ nô lệ ở Trung Quốc ngày xưa như thế nào, người ta làm đầy tớ ra sao? Ở Tây
Phương người ta buôn bán nô lệ thế nào? Và ở thế kỷ nọ, thế kỷ kia người ta đối
xử với những người nô lệ ra sao? Rồi qua những biến động xã hội, người ta thay
đổi quan niệm và giải phóng cho những người nô lệ như thế nào? Đó là thuộc về
phạm vi của đạo đức học miêu tả, Descriptive ethics. Rất là có lợi. Hoặc ví dụ
như là diễn tả cách hành xử trong gia đình, cha mẹ với con cái, mẹ chồng với
nàng dâu, cách thức cưới hỏi trong mỗi xã hội.v.v.. Tóm lại là họ nghiên cứu về
tất cả các nền đạo đức trên thế giới và diễn tả lại cho người ta hiểu.
Đạo Đức Học Quy Định
Ngoài ra lại còn có
thêm một ngành đạo đức nữa, gọi là ngành Đạo Đức Học Quy Định (Prescriptive
ethics). Ngành này đưa ra những đề nghị mình nên làm cái này thì mới có hạnh
phúc, không nên làm cái kia để đừng bị đau khổ. Như bà bác sĩ kê cho bệnh nhân
một toa thuốc rồi dặn, uống thuốc này thì phải kiêng không ăn đồ cay, đồ nóng
thì mới nhanh lành bệnh. Đó gọi là prescriptive, tức là quy định, chỉ định. Mười
Lời Răn của Chúa bên đạo Cơ Đốc cũng thuộc về đạo đức học quy định. Và Năm Giới
của đạo Bụt cũng thuộc về Đạo Đức Học Quy Định. Chúng ta đã sử dụng danh từ gọi
là Đạo Đức Học Tiêu Chuẩn (Normative ethics), mười giới bên đạo Cơ Đốc và năm
giới của đạo Bụt cũng thuộc Đạo Đức Học Tiêu Chuẩn. Tiêu chuẩn tức là đưa ra một
cái thước đo, cho mình biết đâu là đúng, đâu là sai; còn quy định là chỉ định
đâu là ranh giới của cái đúng và sai, của cái thiện và cái ác, của cái chánh và
cái tà. Nhưng siêu đạo đức học vượt thoát cả hai khuynh hướng này, nó đặt vấn đề
một cách căn bản.
Quý vị nói về tốt – xấu,
nhưng thế nào là tốt, thế nào là xấu? Vì vậy siêu đạo đức học trước hết đặt vấn
đề về ngữ nghĩa, tức là ý nghĩa thật sự của chữ đó. Ví dụ khi bàn về vấn đề có
Thượng đế hay không có Thượng đế, có thể chúng ta sẽ mất rất nhiều thời gian mà
không đi tới đâu hết vì chúng ta không biết Thượng đế là ai. Trước hết chúng ta
phải đồng ý với nhau Thượng đế là cái gì, sau đó mới tới cái chuyện có hay
không được. Cho nên tuy chúng ta có danh từ đó, nhưng mỗi người lại hiểu danh từ
đó một cách khác nhau, không sao đồng ý với nhau được. Vì vậy Siêu đạo đức học
bắt buộc chúng ta phải xét lại hết những danh từ, những ý niệm chúng ta đang
có. Nói cái này tốt, cái này xấu, cái này đúng, cái này sai. Nhưng thế nào là tốt,
thế nào là xấu? Cũng như khi nói tu tập là để đạt tới Niết bàn, và người ta hỏi,
thế Niết bàn có hay không ? Niết bàn nằm ở đâu? Trước khi đặt những câu hỏi ấy
thì ta phải hỏi Niết bàn là cái gì đã. Bạn dùng chữ Niết bàn nhưng bạn hiểu về
chữ đó như thế nào ? Bạn mới chỉ có khái niệm thôi chứ chưa chạm tới sự thật.
Biệt Nghiệp Và Cộng Nghiệp
Trong đạo Bụt có luật
gọi là biệt nghiệp và cộng nghiệp. Cái gì cũng có hai mặt chung và riêng. Ví dụ
mặt trời là của chung tất cả muôn loài nhưng có nơi thì có nhiều ánh nắng mặt
trời, có nơi ít hơn. Mỗi trung tâm tu tập
là một cộng nghiệp, trong đó mỗi người có mức độ an lạc khác nhau gọi là biệt
nghiệp. Ở trong cái riêng có cái chung. Người kia có đau khổ, thì khổ đau của họ
cũng có một chút ít dính líu tới mình. Nếu trước đây mình làm công việc bồ tát
khá hơn thì chưa chắc bây giờ họ đã khổ nhiều như vậy. Tại vì lâu nay mình cứ
lo cho bản thân nhiều hơn lo cho họ, cho nên họ không có đường đi, họ rơi vào nẻo
khổ, trách họ hoàn toàn cũng không được. Cố nhiên là họ đi trên con đường lầm
mê thì họ khổ đã đành rồi, nhưng trong quá khứ, nếu mình ưu ái đến họ một chút,
mình hướng dẫn cho họ một chút thì bây giờ họ đâu đến nỗi như vậy? Vì vậy cho
nên trong cái biệt nghiệp của họ, cũng có cái cộng nghiệp với mình. Nếu trong đời
sống mình để một chút thì giờ, một chút năng lượng can thiệp vào thì họ sẽ bớt
khổ hơn. Vì vậy thuyết gọi là báo ứng có thể thay đổi bằng lý tưởng Bồ tát. Bồ
tát có mặt để làm cho cuộc đời bớt khổ.
Đây là buổi giảng cuối
cùng của khóa An Cư Kết Đông (2008-2009). Trong ba tháng qua, chúng ta đã có cơ
hội được tìm hiểu những cái thấy của khoa học, cái thấy của các tôn giáo khác
và cái thấy của đạo Bụt về một nền đạo đức và tâm linh toàn cầu. Chúng ta cũng
đã dành thời gian nghiên cứu, pháp đàm, học hỏi và tu chỉnh lại Năm Giới cho
phù hợp với thời đại. Năm Giới mới này, chúng ta có thể sử dụng được trong khoảng
hai mươi, ba mươi năm. Khi hoàn cảnh xã hội thay đổi thì giới bản sẽ tiếp tục
được tu sửa để phù hợp với tình trạng của xã hội hiện thời.
Xem Tiếp Chương 20 – Quay Về Mục Lục


0 Đánh giá